Dàn ý chi tiết Đây thôn Vĩ Dạ siêuhay | Myphamthucuc.vn

Tham khảo Top 2 Dàn ý chi tiết Đây thôn Vĩ Dạ. Qua các dàn ý sau đây sẽ giúp các bạn nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý chi tiết Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu số 1

I. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Hàn Mặc Tử là nhà thơ tiêu biểu cho phong trào thơ mới.

– Bài thơ được rút ra từ tập Thơ Điên.

– Nội dung: Bài thơ là tình cảm hồi đáp mà Hàn Mặc Tử gửi cho Hoàng Thị Kim Cúc khi Hoàng Thị Kim Cúc gửi thư chúc ông chóng lành bệnh kèm một bức tranh phong cảnh.

– Bài thơ là sự đan xen hòa quyện giữa cảnh và tình nơi xứ Huế mộng mơ, nhẹ nhàng.

II. Thân bài:

1. Khổ 1: Cảnh thiên nhiên xứ Huế

Câu 1:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Câu thơ là dấu chấm hỏi lửng, thể hiện nỗi lòng nhớ thương, băn khoăn

– Đó là lời mời thân thiện, gắn bó

– Là lời trách móc, giận hờn khéo léo, thiết tha

– Thể hiện thời gian đã lâu rồi tác giả chưa ghé thăm thôn Vỹ.

Câu 2,3:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt qua xanh như ngọc

– Cảnh vật thiên nhiên hiện lên thật đẹp, căng tràn sức sống, tươi xanh

– Cảnh vật mang trong mình vẻ đẹp thanh tao, dịu nhẹ

– Tạo cho người đọc một cảm giác sảng khoái, êm đềm, du dương, bay bổng

Câu 4:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

– Hai hình dạng đối lập: vuông vức mặt chữ điền với dáng vẻ manh mai, thanh tao của lá trúc

– Thể hiện duyên dáng, nhịp nhàng, e thẹn của những cô gái xinh xắn, tài sắc, phúc hậu của người con gái thôn quê.

2. Khổ 2: Bức tranh thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng

– Vẻ đẹp của tạo hóa hiện lên với 2 màu sắc đan xen: cảnh đẹp nhưng lại buồn, mang dáng dấp sự chia lìa, lẻ loi: gió theo lối gió, mây đường mây.

– Cuộc chia lìa ấy ghi vào lòng sông những cung bậc thê lương: dòng nước buồn thiu; hoa bắp lay lắt, nổi trôi

– Cảnh vật chỉ là bức màn biểu hiện cho lòng người “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cảnh thật đẹp còn người lại chẳng thể về để thưởng thức thì cảnh liệu rằng còn đẹp nữa hay chăng. Vỹ Dạ nhớ anh, lòng em cũng nhớ anh, mong anh.

Câu 3.4:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Trăng vốn là hình ảnh quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử. Trăng là nơi để con người ta gửi gắm tình cảm, chút tâm tư sâu lắng. Thế nhưng o đây lại là “bến sông trăng”. Đây vừa là hình ảnh tả thực- ánh trăng chiếu xuống mặt nước, lan tỏa trên mặt nước vừa là hình ảnh biểu trưng- sự vô định( thuyền ai), mênh mông dạt dòa. Nỗi niềm tâm tư của tác giả như lan tỏa, thấm sâu, rộng lớn vô ngàn. Trong người lúc này là sự rưng rưng, xót xa, man mác đến nhói lòng.

– Mở rộng: Đúng như Hoài Thanh viết về Hàn Mặc Tử, trong “Thi nhân Việt Nam” : “Vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh”.

3. Khổ 3: Mộng ảo của tâm hồn thi nhân

– Khổ thơ là lời bộc bạch trần tình tả thực về bệnh tình của tác giả: bệnh tình của người khiến hạn chế về thị giác: nhìn không ra, mờ nhân ảnh. Từ đó, khiến cho con người rơi vào cô đơn; ngậm ngùi.

– Thể hiện những mộng tưởng đơn giản: mở khách đường xa khách đường xa, tác giả mong mình có thể được đến thôn để Vỹ thưởng thức cảnh và gặp người thôn Vỹ, để đáp lại tình cảm trân quý từ người bạn của mình.

Xem thêm:  Tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 | Myphamthucuc.vn

– Áo em trắng quá nhìn không ra:

+ Hình ảnh người phụ nữ thướt tha uyển chuyển trong tà áo dài xứ Huế.

+ Ánh mắt anh do sự ảnh hưởng sức khỏe đã không thể chiêm ngưỡng được hết vẻ đẹp của em nhưng vẫn cảm nhận được hình bóng và dáng vẻ dịu dàng của em

  • Ở đây sương khói mở nhân ảnh: Quang cảnh thiên nhiên nơi tác giả sinh sống. Với tác giả mọi thứ giờ đây chỉ là ảo ảnh, mơ hồ, không hiện diện được rõ nét nữa.

  • Ai biết tình ai có đậm đà: Dù trong bệnh tật đau đớn, khó khăn, cô đơn nhưng trái tim tác giả vẫn đong đầy yêu thương: đó là tình yêu quê hương đất nước, xứ xở và tình cảm mãnh liệt gửi gắm đến em.

  • Tình cảm ấy lúc nào cũng dạt dào, đậm đà, say mê.

III. Kết bài

– Thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước của tác giả

– Tình yêu mãnh liệt, nồng nàn dành cho người bạn Hoàng Thị Kim Cúc

– Khát khao cháy bỏng, mãnh liệt được sống để cảm nhận và tận hưởng cho kì hết những cái đẹp về cảnh và người nơi trần thế.

Dàn ý chi tiết Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu số 2

I. Mở bài:

Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

Hàn Mặc Tử có lẽ là một cái tên mà không ai có thể quên khi nhắc đến phong trào thơ mới. Một trong những thi phẩm mang dấu ấn sâu đậm nhất của thi sĩ đã để lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc biết bao niềm khơi gợi sâu sắc chính là bài thơ Đây thôn vĩ dạ. bài thơ cũng giống như một bức tâm thư bộc lộ những tình cảm thầm kín và khao khát cháy bỏng của thi sĩ

II. Thân bài:

1. Phân tích khổ thơ thứ nhất:

– Bài thơ mở đầu và một câu hỏi “sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

– Ta có cảm giác như đây là một lời trách yêu của một người con gái, trong đó ẩn dấu sự dỗi hờn cả sự ngóng trông da diết

– Thực tế thì không có một người con gái nào đang trực tiếp đối mặt với Hàn Mặc Tử, bởi vậy có lẽ lời trách yêu này là cất lên từ những bức ảnh những bức tâm thư, nó xôn xao, nó rạo rực sống dậy trong lòng nhà thơ, hướng trái tim người thi sĩ về với quê hương xứ Huế thân yêu ngày tiếp đó câu thơ thứ hai khiến chúng ta bất ngờ vì ngay lập tức cảnh thiên nhiên xứ Huế, cảnh vật nơi thôn Vĩ Dạ được mở ra

– Rõ ràng câu hỏi một cách lên thì trước mắt nhà thơ đã là không gian của thôn Vĩ Dạ đây chắc chắn là một cuộc hành trình trong tâm thức

– Cái nắng hiện lên trong quan sát của nhà thơ, một cái nắng hiện lên trong vẻ tinh khôi, tươi mới, chẳng phải là cái nắng rực rỡ của mùa hè cũng chẳng phải cái nắng dịu nhẹ của mùa thu mà nó là “nắng mới lên” tức là nắng của buổi bình minh

– Câu thơ có hai từ nắng làm cho không gian như tràn ngập ánh sáng, chẳng từ ngữ miêu tả màu sắc, nhưng ánh nắng hiện ra cứ trong trẻo và tinh khôi biết nhường nào

– Điểm nhìn của Hàn Mặc Tử dường như là từ trên cao nhìn xuống từ xa lại gần, đôi mắt của Hàn Mặc Tử trong cuộc hành trình như xé toạc bầu trời để nhìn thấy ánh bình minh cùng ánh nắng diệu kỳ thắp lên từ những ngọn cau cao vút, để có một cái nhìn bao quát thấy được với màu xanh bao trùm lên khu vườn 

Xem thêm:  [CHUẨN NHẤT] Zn(OH)2 kết tủa màu gì, Zn(OH)2 có tan không | Myphamthucuc.vn

– “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, câu thơ là một lời cảm thán thốt lên trước vẻ đẹp của khu vườn

– Tính từ lướt ra hình ảnh so sánh xanh như ngọc đã làm hiện lên vẻ đẹp tuyệt diệu của khu vườn thôn Vĩ

– Câu thơ không chỉ đem lại cho ta cảm nhận về thị giác mà còn gợi lên cái cảm giác như được chạm vào những lá xanh mượt mà, đi chính là một trong những nét đặc trưng của các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng bởi thơ tượng trưng siêu thực Pháp khi cảm nhận vạn vật bằng nhiều giác quan.

– Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” là một hình ảnh so sánh độc đáo, màu xanh của lá cây được ví với màu xanh ngọc mang lại cho ta một cảm giác thật dễ chịu tươi mới, tất cả mọi thứ đều non tươi mơn mởn và tràn đầy sức sống

– Đến câu thơ thứ tư thì hình ảnh con người mới xuất hiện “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

– Câu thơ cuối khổ một là câu thơ có nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng “mặt chữ điền” chính là khuôn mặt của người con gái đã mời Hàn Mặc Tử về chơi thôn Vĩ. Bời vì “vườn ai” chính là vườn của em, nhìn thấy khuôn mặt của em trong khu vườn ấy thì rất hợp lí

– Nhưng cũng có người cho rằng đó chính là tác giả trong cuộc hành hương tâm tưởng, Hàn Mặc Tử đã gặp lại chính mình với gương mặt chữ điền thời còn là chàng trai tài hoa nổi danh trên đất Huế

– Dường như, nhà thơ muốn yêu một tình yêu trong trắng, thanh thản, đắm say thì phải trở lại là con người của quá khứ, phải là một nhà thơ đa tình phong lưu thời còn ở Huế. Nói đúng ra là nhà thơ muốn quên mình trong hiện tại với căn bệnh hiểm nghèo để đươc yêu

– Hình tượng “lá trúc che ngang” càng cung cấp cho gương mặt chữ điền ấy những nét ngang tàng, phóng khoáng mạnh mẽ của người đàn ông bởi lá trúc trong quan niệm xưa chính là biểu hiện cho người quân tử. 

2. Phân tích khổ thơ thứ hai:

– Bốn câu thơ buồn khổ thứ hai như vẽ xe trước mắt chúng ta không cảnh của quê hương xứ Huế trong buổi chiều tối với những gam màu trầm lắng mỗi câu thơ gợi dám hình ảnh làm đầy thêm bức tranh phong cảnh nhưng nếu như nhìn thật kỹ ta sẽ thấy những nghịch lý những điều trái tự nhiên ẩn trong từng sự vật

– “Gió theo lối gió mây đường mây”, câu thơ có lẽ không chỉ còn là nghịch lý mà lại còn chứa đựng cả sự trớ trêu, chưa được sự biệt ly chia cắt

– “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”, theo lẽ thường gió gió thổi làm hoa bắp lai thì sóng nước cũng phải theo đó mà gợn mà lay động, ấy thế nhưng dòng nước lại đứng im, chẳng khác nào lứa đôi dù ở gần kề nhau nhưng lại chẳng thể đồng điệu, trong gần gũi lại có mùi gì của sự chia phôi

– Phải chăng đây là cảm giác của nhà thơ trong xa cách nhớ thương, và đây cũng là mặc cảm của những con người xưa trong cuộc sống. Nỗi buồn về sự chia li, tiễn biệt đọng lại trong lòng người phảng phất buồn và mang một nỗi niềm xao xác

– Nếu khổ thơ đầu ta cảm nhận một tình yêu sắp nảy nở tuyệt vời nhưng đến khổ thơ sau thì ta lại gặp một cuộc tình tan nát chia phôi.

– Phải chăng, thông qua cách nói hình tượng Hàn Mặc Tử đã chua chát phủ định người mời mình về thăm thôn Vĩ.  “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay?”

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Hầu trời ngắn gọn nhất | Myphamthucuc.vn

– Hình tượng trăng trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện rất nhiều. Trăng muôn đời là biểu tượng của hạnh phúc, đặc biệt là hạnh phúc lứa đôi. Quá khao khát hạnh phúc nên hai câu thơ của Hàn Mặc Tử tràn ngập ánh trăng: bến trăng, sông trăng, thuyền trăng, chở trăng.

– Tác giả đã gửi gắm một tình yêu khát khao, nỗi ngóng trông, mong nhớ vào con thuyền trăng, vào cả dòng sông trăng.

– Vầng trăng trong hai câu thơ này là vầng trăng nguyên vẹn của thi nhân trước mảnh tình yêu chưa bị phôi pha.

– Câu hỏi làm nhịp thơ chùng xuống biểu lộ niềm lo lắng của một số phận không có tương lai.

– Hàn Mặc Tử hiểu căn bệnh của mình nên ông mặc cảm về thời gian cuộc đời ngắn ngủi, vầng trăng không về kịp và Hàn Mặc Tử cũng không đợi vầng trăng hạnh phúc đó nữa, một năm sau ông vĩnh biệt cuộc đời.

3. Phân tích khổ thơ thứ ba:

– Thi sĩ buồn cho cái số phận ngắn ngủi, cho ước mơ vẫn còn dở dang, nhưng rồi người nghệ sĩ lại tiếp tục sống trong khao khát của mình

– Hình ảnh “khách đường xa” nhấn mạnh hai lần đã nói lên phần nào nỗi trông ngóng, nhớ thương của tác giả dành cho người thương. 

– Màu áo trắng cũng là màu ánh nắng của Vĩ Dạ mà nhìn vào đó tác giả choáng ngợp, thấy ngây ngất trước sự trong trắng, thanh khiết, cao quý của người yêu

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh / Ai biết tình ai có đậm đà?”

– Câu thơ đã tả thực cảnh Huế – kinh thành sương khói. Trong màn sương khói đó con người như nhoà đi và có thể tình người cũng nhoà đi

– Câu hỏi tu từ cuối cùng cất lên như một tiếng ngậm ngùi, tự vấn qua một trái tim khao khát với tình yêu nhưng trước mắt lại có quá nhiều gian truân trở ngại

– Hai đại từ “ai” ở câu thơ này tạo nên nhiều cách hiểu: không biết em có hiểu được chính tình yêu của em đậm đà hay không? Không biết bản thân anh có biết được tình yêu của chính mình đậm đà không? Liệu em có biết tình anh đậm đà không? Liệu anh có biết tình em có đậm đà không? 

– Một câu hỏi trong thơ nhưng ẩn chứa biết bao nhiêu câu hỏi đằng sau nó, càng hỏi càng thấy “mờ nhân ảnh”, càng tuyệt vọng.

– Càng tha thiết một tình yêu đậm đà Hàn Mặc Tử càng thấy sự đổ vỡ tuyệt vọng với tình yêu. Vì thế mà cảm hứng chủ đạo của “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là cảm hứng đau xót về một tình yêu tuyệt vọng.

III. Kết bài:

Mọi sự tuyệt vọng đều làm cho ta bi quan nhưng tình yêu tuyệt vọng của Hàn Mặc Tử lại khơi lên trong ta ánh sáng của khao khát mãnh liệt da diết. Chính tình yêu đã tiếp thêm nghị lực cho người thi sĩ trong hoàn cảnh khó khăn trong những giây phút đớn đau chiến đấu với bệnh tật. Cũng giá trị nhân văn ấy đã khẳng định tên tuổi của Hàn Mặc Tử trên bầu trời thơ ca Việt Nam và giúp cho thi phẩm mãi xanh trong lòng bao thế hệ bạn đọc.

—/—

Trên đây là Dàn ý chi tiết Đây thôn Vĩ Dạ do Top lời giải sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Học tập